Tùng ném mạnh chiếc ba lô vải kaki xuống tấm ván sàn gỗ cũ kỹ. Bụi đóng dày cộm từ các khe ván lập tức bay lên mù mịt, lọt vào mũi làm anh ho sặc sụa. Anh khom lưng, hai tay chống lên đầu gối, cố ho để tống khứ cái cảm giác ngứa ngáy, khô khốc trong cổ họng ra ngoài. Cơn ho kéo dài làm khuôn mặt góc cạnh của anh đỏ bừng lên, những thớ cơ ở cổ giật giật liên hồi. Chuyến xe đò đằng đẵng mười tiếng đồng hồ từ thành phố về đến mép kênh, cộng thêm hơn hai giờ ngồi trên chiếc ghe máy chòng chành của chú Ba đã vắt kiệt sức lực của chàng thanh niên hai mươi ba tuổi. Da thịt anh bỏng rát vì nắng gió sông nước, đầu óc quay cuồng bởi tiếng nổ chát chúa của động cơ máy đuôi tôm chạy suốt dọc đường. Cả cơ thể rệu rã, rã rời, các khớp xương như muốn rời ra sau mỗi cú xóc nảy trên mặt sóng đục ngầu.
"Làm gì mà thô bạo vậy con," chú Ba tặc lưỡi, đặt bình trà cáu bẩn lên chiếc bàn tre xiêu vẹo bên góc cột. "Ở đây không như trên thành phố. Đồ đạc dưới này cái nào cũng cũ kỹ, xài phải nâng niu. Hư một cái là đi ghe cả buổi trời mới có chỗ mua thay đó."
Tùng dùng tay phẩy phẩy những hạt bụi lờ lững trong ánh nắng chiều đang tắt. Chiếc quần đùi đen của anh đã bám một vệt phèn xám xịt, khô cứng lại từ lúc anh bước hụt chân xuống ghe lúc chiều. Khi nãy, lúc bước từ mũi ghe lên sàn gỗ trơn trượt của căn chòi, Tùng đã bị trượt chân, một bên đầu gối đập mạnh vào mép ván gỗ mục làm trầy một mảng da lớn, máu rỉ ra hòa lẫn với nước phèn chua lòm. Anh kéo vạt chiếc áo ba lỗ màu cháo lòng đẫm mồ hôi lên lau mặt. Vải áo thô ráp ma sát vào da thịt đỏ ửng vì nắng, cọ qua hai đầu ngực nhạy cảm làm anh khẽ nhíu mày vì rát. Mồ hôi trộn lẫn với bụi đường tạo thành một lớp màng dính dấp, ngứa ngáy bám chặt lấy da thịt Tùng, từ hai bên nách xuống dọc sườn hông.
Anh nhìn quanh căn chòi rộng chừng hai chục mét vuông trống huếch trống hoác. Căn chòi được dựng bằng những thân cây tràm khẳng khiu, vách lợp bằng lá dừa nước rách nát nhiều chỗ. Gió chiều thổi qua những kẽ hở lớn của vách lá rách nát, mang theo hơi ẩm lạnh ngắt từ dòng nước đục ngầu đang cuồn cuộn chảy sát dưới sàn nhà. Dưới chân Tùng, dòng sông mùa nước nổi tựa một con quái vật khổng lồ đang giận dữ, những con sóng đục ngầu phù sa vỗ liên tục vào hàng cột tràm nâng đỡ toàn bộ căn chòi nghe bôm bốp. Căn chòi khẽ rùng mình theo từng nhịp sóng vỗ, tạo cảm giác lỏng lẻo, có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Không gian xung quanh chỉ toàn là nước và nước, trải dài mênh mông đến tận đường chân trời xa xăm, nơi những rặng tràm tối sẫm đứng im lìm như những bóng ma.
Chú Ba châm điếu thuốc rê. Khói khét lẹt phả ra từ khóe miệng đầy răng ố vàng của ông, nhanh chóng lan tỏa, phần nào che bớt mùi ẩm mốc của đống lưới cũ chất ở góc nhà. Ông bước ra mép sàn gỗ, nơi những con sóng đục ngầu đang vỗ mạnh vào hàng cột tràm. Mắt ông hướng về vệt rừng tràm xa tít tắp đang chìm dần vào màu xám đen của hoàng hôn. Ông rít một hơi thuốc dài, để đầu thuốc đỏ rực lên trong bóng tối đang sập xuống rất nhanh.
"Chú Ba tính về thiệt hả?" Tùng hỏi, giọng anh hơi run khi nhìn ra khoảng không mênh mông nước bên ngoài. "Con tưởng chú ở lại với con vài bữa cho quen nước quen cái. Con mới xuống lần đầu, nhìn cái vuông tôm mênh mông vầy cũng hơi ngợp. Với lại điện thoại ở đây mất sóng hoàn toàn, lỡ có chuyện gì con biết kêu cứu ai."
Chú Ba không nhìn Tùng. Ông tiếp tục rít một hơi thuốc rê, khói khét lẹt phả ra bảng lảng trước vách lá. Giọng ông trầm đục, mang theo nét khắc khổ của người cả đời bám sông bám nước:
"Vuông tôm này tao coi ba năm rồi. Giờ dưới nhà dưới quê có chuyện gấp, thím mày bị té trật khớp hông, nằm một chỗ không ai lo cơm nước heo cúi, tao phải về phụ một tay. Mày lớn rồi, thanh niên trai tráng hai mươi ba tuổi đầu, có cái vuông tôm với cái chòi rách này mà sợ gì. Cứ canh nước, rải thức ăn đúng giờ cho tao là được. Mỗi ngày hai cử, sáng một cử lúc mặt trời mọc, chiều một cử trước khi tắt nắng. Việc nhẹ hều chứ có gì nặng nhọc đâu mà lo. Cứ ở đây giữ vuông cho tao một tháng, tao trả tiền công sòng phẳng cho mày có vốn làm ăn trên thành phố. Đừng có nhụt chí sớm vậy con."
Ông quay lại, nắm lấy bả vai Tùng. Bàn tay thô ráp đầy vết chai sạn, ngập mùi bùn đất và mùi cá tanh của ông siết chặt đến mức Tùng thấy bả vai mình nhói lên đau đớn.
"Nhưng mà có mấy chuyện tao phải dặn kỹ." Giọng chú Ba trầm hẳn xuống, nghiêm trọng đến lạ lòng. "Nước nổi năm nay lên dữ lắm. Mày coi đó, nước lên láng cả chân cột, xung quanh đây không có nhà ai đâu. Xung quanh toàn là rừng tràm ngập nước, muốn kêu cứu cũng không ai nghe đâu nghe chưa?"
Tùng gật đầu, cố tỏ ra cứng cỏi dù trong lòng bắt đầu có chút hối hận vì đã nhận lời về đây coi vuông hộ chú. "Con biết rồi. Chú cứ dặn, con ghi nhớ hết mà. Con cũng đâu phải con nít."
Chú Ba chỉ tay ra vuông tôm mênh mông nước phía trước. Những cây tràm khẳng khiu nhô lên giữa dòng nước xiết nhìn như những cánh tay người chết đuối đang cố vươn lên cầu cứu trong ánh chiều tà.
"Thứ nhất, trời vừa sập tối là phải cài then cửa sau chặt lại. Cho dù có nghe tiếng động gì bên ngoài, hay có ai gọi tên mày ngoài bến ghe, tuyệt đối không được mở."
Tùng nhướng mày, cảm thấy điều này hơi vô lý và mang tính mê tín của người dân quê. "Ủa, lỡ người ta lỡ đường đi ghe đêm bị giông bão ghé vô xin tá túc thì sao chú? Mình không mở cửa cứu người ta lỡ có chuyện gì thì thất đức chết."
"Tao nói không mở là không mở!" Chú Ba gắt lên, mắt trợn tròn nhìn Tùng. "Mùa nước nổi này dân đi ghe dọc không ai đi ban đêm. Mà có đi họ cũng né mấy cái chòi cô lập này ra. Người đàng hoàng không ai gõ cửa sau nhà sàn giữa đêm khuya đâu. Mùa nước nổi này, con nước nó hung dữ lắm, người ta chèo ghe lật chìm sông, xác trôi tấp vô mấy gốc tràm. Chết trẻ có, chết già có, nhưng oán nhất là mấy đứa đàn bà con gái chết chìm lúc đang mang bầu hoặc mới sanh con. Tụi nó lạnh lẽo dưới đáy sông, không có nhang khói, không có ai thờ cúng. Đêm đêm tụi nó ngoi lên tìm hơi ấm. Mày là trai tráng, dương khí mạnh mẽ, đối với tụi nó tựa đống lửa giữa đêm đông vậy. Ai gọi cũng kệ mẹ nó, trùm mền ngủ cho tao. Nghe rõ chưa?"
Tùng nuốt nước bọt. Cổ họng anh khô khốc vì khói thuốc rê và cái lạnh đang bắt đầu ngấm vào da thịt qua những khe hở dưới sàn gỗ. Anh khẽ gật đầu, không dám cãi lại.
"Thứ hai," chú Ba tiếp tục gõ ngón tay đóng chai xuống bàn tre nghe cộc cộc, "ban đêm cấm huýt sáo. Dân thành phố tụi mày hay có thói quen huýt sáo nghêu ngao khi buồn tay buồn chân. Ở đây, huýt sáo là gọi những thứ dưới nước lên đó."
"Những thứ dưới nước?" Tùng lặp lại, cảm thấy một luồng ớn lạnh chạy dọc sống lưng. "Chú nói rõ hơn được không? Là cá lớn hay cái gì?"
"Đã bảo là đừng hỏi nhiều!" Chú Ba dụi tắt đầu thuốc rê vào mép bàn gỗ, mặt ông tối sầm lại dưới ánh chiều tà. "Huýt sáo trên sông đêm là phạm đại kỵ. Tiếng huýt sáo nghe thanh tao nhưng đối với bọn âm binh, vong hồn dưới nước thì nó như tiếng còi gọi đò. Mày huýt sáo một tiếng, tụi nó tưởng có người rước, tụi nó bu lại bám vô sàn gỗ, bò lên chòi mày. Có khi tụi nó hiện hình đứng ngay đầu nằm của mày mà cười. Lúc đó mày có muốn chạy cũng không có chỗ nào mà chạy, bốn bề toàn là nước xiết."
Tùng lặng người. Nỗi sợ hãi vô hình bắt đầu nhen nhóm trong lòng anh.
"Và cái cuối cùng, cũng là cái quan trọng nhất," chú Ba ghé sát tai Tùng, giọng thì thầm nhỏ nhẹ nhưng đầy tính đe dọa. "Quần áo, nhất là đồ lót, quần đùi của mày, ban ngày phơi ở sào trước thì được, nhưng trời vừa tắt nắng là phải đem vô nhà liền. Tuyệt đối không được để ngoài trời qua đêm."
Tùng nhìn chiếc quần đùi đen dự phòng đang vắt tạm trên thành ba lô. "Sao vậy chú? Đồ ẩm phơi đêm cho nó đón gió mau khô chứ? Con thấy trên thành phố người ta vẫn phơi đồ ban đêm suốt có sao đâu."
"Mày cãi tao nữa hả?" Chú Ba trợn mắt, giọng ông run run nhưng đầy giận dữ. "Nước lên, vong hồn người chết trôi vất vưởng nhiều lắm. Tụi nó chết lạnh lẽo dưới sông dưới lạch, thèm hơi người sống, đặc biệt là hơi hám đàn ông trai tráng ở mấy cái đồ mặc sát người. Tụi nó lấy mặc thử, rồi theo cái hơi đó mò vô mùng mày ôm mày hút sạch sinh khí đó con! Hồi trước, thằng Sáu coi vuông trước mày cũng cậy mình khỏe mạnh, không nghe lời tao. Đêm nó phơi cái quần đùi đỏ ngoài sào. Sáng ra quần áo mất tiêu, còn nó thì nằm lờ đờ trong mùng, người ngợm xám ngoét như người chết trôi. Nó nói đêm có người đàn bà chui vô mùng ôm nó chặt cứng, người bả lạnh ngắt mà bả cứ rà rà khắp người nó. Sau đợt đó nó sợ quá bỏ vuông chạy luôn tới giờ. Mày muốn như thằng Sáu thì cứ việc thử!"
Tùng định cười để xua đi không khí rùng rợn, nhưng gương mặt xám ngắt và ánh mắt nghiêm túc của chú Ba khiến nụ cười của anh tắt ngấm ngay trên môi. Anh cảm nhận được mùi đất, mùi nước lũ bốc lên qua các khe hở của sàn gỗ. Dưới chân anh, dòng nước đục ngầu cuồn cuộn chảy, thỉnh thoảng có những thân tre, gỗ mục đập vào cột nhà sàn nghe "kịch, kịch" vang lên trong không gian yên ắng.
Chú Ba nhìn chiếc đồng hồ cơ cũ kỹ trên tay, rồi bước nhanh ra phía bến ghe. Tùng lật đật xách chiếc đèn bão chưa thắp sáng đi theo sau.
Chiếc ghe bầu của chú Ba neo ở mép sàn, lắc lư mạnh mẽ theo từng con sóng đục. Chú Ba bước xuống ghe, động tác nhanh nhẹn và chuẩn xác của người dân vùng sông nước. Ông nổ máy, tiếng máy ghe nổ giòn giã "lạch cạch lạch cạch" phá tan sự tĩnh lặng đáng sợ của buổi chiều muộn. Hơi khói dầu máy khét lẹt phả ra, bay bảng lảng trên mặt nước tối sẫm.
Tùng đứng trên sàn gỗ, tay cầm chiếc đèn bão, nhìn chú Ba. Gió từ lòng sông thổi tới, tạt mạnh vào chiếc áo ba lỗ ướt đẫm của anh, tạo nên một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng.
"Nhớ kỹ lời tao dặn đó Tùng!" Chú Ba hét lên qua tiếng máy nổ. "Tối nhớ gài then cửa sau! Không huýt sáo! Không phơi đồ lót ngoài trời!"
Tùng gật gật đầu, hét lại: "Dạ! Chú đi cẩn thận!"
Chiếc ghe bầu từ từ lùi ra xa, rồi quay đầu hướng về phía con kênh lớn dẫn ra đất liền. Tùng đứng yên tại chỗ, nhìn cái bóng xám của chiếc ghe nhỏ dần, nhỏ dần rồi chìm hẳn vào bóng tối đen kịt của vuông tôm mênh mông nước. Không gian lập tức bị nuốt chửng bởi sự tĩnh mịch ghê rợn, chỉ còn tiếng máy ghe nhỏ dần rồi tắt hẳn ở đằng xa.
Bây giờ chỉ còn một mình anh với căn nhà sàn cô lập giữa biển nước lũ.
Tùng quay trở vào căn chòi. Anh đặt chiếc đèn bão lên bàn, bật quẹt châm lửa. Ánh sáng vàng vọt, run rẩy của ngọn đèn bão tỏa ra, chiếu sáng một khoảng nhỏ trong căn chòi, để lại những góc tối ôm trùm xung quanh vách lá. Gió bắt đầu thổi mạnh hơn. Những tấm lá dừa nước lợp vách kêu sột soạt, gió lùa qua khe hở mang theo hơi nước lạnh buốt tạt thẳng vào lưng Tùng.
Anh bước đến cánh cửa sau của căn chòi. Cánh cửa được làm bằng những tấm ván gỗ ép xập xệ, chỉ có một cái chốt gỗ thô sơ để cài vào khoen sắt hoen gỉ. Anh đưa tay đẩy chốt gỗ qua, tiếng chốt gài nghe "cạch" một âm thanh khô khốc trong đêm tối.
Nửa ngày di chuyển bằng tàu xe và ghe xuồng khiến dạ dày Tùng bắt đầu biểu tình. Anh đi về góc chòi, nơi chú Ba để một bao gạo nhỏ và mấy món đồ khô. Căn bếp của chòi lá đơn giản đến mức đáng thương: một cái lò đất nung cũ kỹ đặt trên tấm tôn rỉ sét để tránh bén lửa xuống sàn gỗ, một cái lu sành đựng nước mưa kề bên, và vài ba chiếc xoong nồi bám đầy nhọ nồi đen kịt.
Tùng lóng ngóng nhặt vài thanh củi tràm chất dưới gầm bàn. Củi để ngoài chòi lâu ngày bị hơi nước lũ ngấm vào, thanh nào thanh nấy ẩm xì, sờ vào thấy lành lạnh và mềm tay. Anh dùng con dao mác cũ rọc từng lớp vỏ tràm xơ xác ra để tìm phần gỗ khô bên trong làm mồi lửa. Việc này ngốn của anh không ít thời gian. Đôi bàn tay vốn chỉ quen gõ bàn phím máy tính giờ đây vụng về cầm dao, suýt chút nữa là anh đã cắt vào tay mình khi lưỡi dao trượt mạnh trên thớ gỗ trơn trượt.
Anh quẹt diêm. Tia lửa nhỏ nhoi bùng lên rồi nhanh chóng tắt ngấm khi chạm vào làn gió lạnh lùa qua khe vách. Tùng phải khom người, dùng một tay che chắn, tay kia liên tiếp quẹt diêm. Đến cây diêm thứ năm, ngọn lửa mới bén được vào nhúm xơ tràm khô. Anh vội vã đưa những thanh củi nhỏ vào. Khói bắt đầu bốc lên. Do củi ẩm, khói không lên thẳng mà tỏa ra mù mịt khắp gian chòi nhỏ. Khói tràm nồng nặc, khét lẹt len vào mắt, vào mũi làm Tùng nước mắt nước mũi chảy ròng ròng. Anh ho sặc sụa, vội nghiêng đầu né tránh luồng khói đen xì đang cuộn lên từ cái bếp đất.
Anh khom người sát xuống sàn gỗ, cố gắng dùng miệng thổi nhè nhẹ vào đốm lửa đang thoi thóp. Sức nóng từ đống củi mới bén phả vào mặt Tùng, làm mồ hôi trên trán anh tứa ra, chảy dài thành vệt dọc má rồi nhỏ xuống tấm tôn rỉ dưới chân lò. Sau một hồi chật vật, ngọn lửa đỏ cam cũng chịu bùng lên ổn định, xua bớt đi cái lạnh đang vây quanh. Tùng đặt chiếc nồi nhôm méo mó lên lò. Anh múc nước từ cái lu sành bên cạnh. Nước mưa lưu cữu trong lu có mùi hơi ngai ngái của rêu phong, nhưng lúc này anh không còn lựa chọn nào khác.
Trong lúc chờ nước sôi để nấu bát mì gói ăn tạm qua bữa, Tùng ngồi thụp xuống chiếc ghế gỗ thấp, đưa tay xoa xoa đầu gối bị trầy xước. Máu đã khô lại thành một vệt sẫm màu, bám đầy bụi gỗ và nước phèn chua lòm. Cảm giác đau rát trỗi dậy rõ rệt hơn khi cơ thể bắt đầu nguội đi sau chuyến đi dài. Anh cởi chiếc áo ba lỗ đẫm mồ hôi ra, ném qua một bên. Làn da bánh mật săn chắc của chàng trai trẻ lập tức tiếp xúc với luồng khí ẩm ướt, lạnh lẽo thổi qua khe vách. Da gà nổi lên khắp cánh tay và bắp đùi. Anh cúi đầu nhìn xuống chiếc quần đùi đen của mình, lớp vải thô ráp bết chặt vào háng do nước sông lúc chiều thấm vào chưa khô hẳn, cọ sát vào da thịt nhạy cảm tạo nên cảm giác ngứa ngáy khó chịu vô cùng.
Tiếng nước trong nồi bắt đầu sôi réo rắt, kéo Tùng ra khỏi cơn đau nhức của cơ thể. Anh vội vàng thả vắt mì và chút thịt hộp chú Ba để lại vào nồi. Mùi thơm của gia vị mì tôm nhanh chóng hòa lẫn với mùi khói tràm khét lẹt, tạo nên một thứ mùi hỗn độn trong căn chòi tối tăm. Tùng dùng đôi đũa tre mun gắp mì ăn ngay trong nồi. Lớp nước súp nóng hổi, cay nồng trôi xuống cổ họng giúp anh lấy lại chút sinh khí, sưởi ấm lồng ngực đang run lên vì lạnh.
Nhưng sự ấm áp đó không kéo dài được lâu. Khi tiếng nhai nuốt dừng lại, không gian xung quanh lập tức bị bao trùm bởi thứ âm thanh đáng sợ của mùa nước nổi. Dưới sàn nhà gỗ, tiếng nước chảy xiết nghe rào rào như tiếng hàng ngàn con rắn đang trườn qua. Sóng đánh vào hàng cột tràm nghe bôm bốp, có lúc mạnh đến nỗi làm chiếc nồi nhôm trên bếp rung lên bần bật, kêu lách cách. Cứ mỗi nhịp sóng lớn đi qua, cả căn chòi lại nghiêng khẽ một chút rồi đứng thẳng lại, giống như một kẻ say rượu đang cố bám víu lấy mặt nước cuồn cuộn.
Tùng ăn xong, đặt chiếc nồi không xuống sàn. Anh đứng dậy, bước ra mép sàn phía sau để rửa nồi. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn bão đặt trên bàn, dòng nước lũ bên dưới hiện lên đen ngòm, cuộn xoáy dữ dội. Những mảng lục bình lớn và cành cây mục trôi dạt theo dòng nước xiết, thỉnh thoảng đâm sầm vào cột nhà sàn nghe những tiếng "kịch, kịch" trầm đục. Mỗi tiếng va đập như nện thẳng vào lồng ngực Tùng, khiến tim anh đập nhanh hơn. Anh vội vã múc nước sông lên rửa sơ qua chiếc nồi rồi quay vào trong, không dám nhìn lâu xuống lòng sông sâu hoắm đang chực chờ nuốt chửng mọi thứ.
Anh nhìn chiếc quần đùi đen của mình, lớp vải ẩm ướt bắt đầu làm da thịt anh đỏ ửng vì ma sát. Nghĩ đến lời dặn của chú Ba, Tùng do dự một chút rồi quyết định cởi phăng chiếc quần đùi ướt ra. Anh đứng trần trụi giữa căn chòi cô độc, cơ thể thanh niên hai mươi ba tuổi khỏe mạnh, săn chắc với những thớ cơ nổi rõ dưới ánh đèn dầu vàng vọt. Làn gió từ sông thổi luồn qua khe sàn gỗ, mơn trớn khắp da thịt trần trụi của anh, từ bắp chân lên đến đùi trong, làm dương vật của anh khẽ co rút lại vì lạnh. Tùng nhanh chóng lục lọi trong ba lô, lấy ra một chiếc quần đùi màu xám khô ráo khác mặc vào.
Chiếc quần đùi đen ẩm ướt và chiếc áo ba lỗ dơ bẩn cần được phơi khô. Tùng cầm chúng trên tay, bước về phía cửa trước định đem ra phơi ở chiếc sào tre ngoài hiên. Nhưng ngay khi chạm tay vào then cửa, lời cảnh báo của chú Ba lại văng vẳng bên tai: *"Đồ lót của mày... tuyệt đối không được để ngoài trời qua đêm... vong hồn người chết trôi thèm hơi người sống... tụi nó mò vô mùng mày ôm..."*
Tùng khựng lại. Anh nhìn qua khe cửa hở ra khoảng sân nước mênh mông phía trước. Rừng tràm xa xa chìm trong bóng tối dày đặc, không có lấy một ánh đèn, chỉ có tiếng sóng vỗ rì rào nghe như tiếng thì thầm của trăm ngàn miệng lưỡi. Nỗi sợ hãi vô hình đè nặng lên tâm trí anh. Cho dù lý trí mách bảo đó chỉ là những câu chuyện mê tín dị đoan của người dân sông nước để dọa dẫm con nít, nhưng giữa không gian cô lập này, anh không dám đánh cược. Tùng rụt tay lại. Anh quay vào trong chòi, tìm một sợi dây kẽm rỉ sét giăng ngang qua góc cột tràm gần bếp, rồi vắt hai món đồ ướt lên đó.
"Chỉ là đề phòng thôi," Tùng tự lẩm bẩm, cố gắng trấn an bản thân bằng giọng nói của chính mình, nhưng tiếng nói nhỏ nhoi nhanh chóng bị nuốt chửng bởi tiếng gió rít qua vách lá.
Bây giờ là lúc phải chuẩn bị chỗ ngủ. Căn chòi chỉ có một chiếc phản gỗ cũ kỹ đặt ở góc nhà, trên có sẵn một chiếc chiếu lác đã mốc meo, chuyển sang màu vàng xỉn. Tùng bước đến, dùng chiếc chổi dừa quét sạch lớp bụi bám trên mặt chiếu. Mỗi nhát chổi quét qua phát ra tiếng sột soạt khô khốc. Anh lấy chiếc mùng tuyn màu cháo lòng từ trong góc ra. Chiếc mùng đã cũ, có nhiều chỗ bị rách vá chằng vá đụp bằng những sợi chỉ đen thô kệch, bốc lên mùi ẩm mốc khó ngửi của vải để lâu ngày trong tủ kín.
Tùng bắt đầu tìm chỗ để buộc bốn góc mùng. Căn chòi dựng bằng những thân tràm tròn trĩnh, trơn tuột, không có điểm tựa vững chắc. Anh phải trèo lên mép phản, rướn người cột từng sợi dây mùng vào các thanh xà ngang trên mái lá. Đang loay hoay cột góc mùng thứ ba, Tùng bỗng nghe thấy một tiếng "bõm" lớn phát ra từ ngay dưới sàn gỗ, sát chỗ anh đang đứng. Tiếng động mạnh đến mức như có một vật nặng vừa rơi xuống nước, hoặc có thứ gì đó từ dưới nước vừa trồi lên, đập mạnh vào ván sàn.
Tùng giật nảy mình, suýt nữa trượt chân ngã khỏi chiếc phản gỗ. Anh đứng im phăng phắc, tay vẫn giữ sợi dây mùng, mắt trợn tròn nhìn xuống những khe hở rộng bằng ngón tay dưới sàn nhà. Dưới đó hoàn toàn là một màu đen kịt. Tiếng nước chảy vẫn rì rầm, nhưng có gì đó rất khác. Cảm giác như có một ánh mắt từ khoảng tối sâu hoắm dưới kia đang nhìn ngược lên qua kẽ ván, chăm chú quan sát từng động tác trần trụi của anh.
Anh nín thở, lắng nghe. Không có tiếng động nào tiếp theo, ngoài tiếng sóng vỗ đều đặn vào cột tràm. Tùng nuốt nước bọt, cố xua đi suy nghĩ kỳ quái đó. Anh nhanh chóng cột nốt hai góc mùng còn lại, rồi chui tọt vào bên trong chiếc mùng tuyn ẩm mốc. Chiếc mùng này như một bức tường mỏng manh ngăn cách anh với thế giới đầy những âm thanh rợn người bên ngoài.
Nằm trên chiếc chiếu lác thô ráp, Tùng gối đầu lên chiếc ba lô vải của mình. Anh lấy điện thoại ra xem. Màn hình hiển thị cột sóng trống trơn kèm theo dòng chữ "Không có dịch vụ". Dung lượng pin chỉ còn chưa đầy bốn mươi phần trăm. Anh tắt nguồn điện thoại để tiết kiệm pin phòng khi cần thiết. Khi ánh sáng xanh của màn hình điện thoại phụt tắt, căn chòi lập tức chìm vào bóng tối bán phần, chỉ còn lại ánh sáng yếu ớt, cam đỏ từ ngọn đèn bão đặt trên chiếc bàn tre ngoài mùng.
Ngọn lửa trong đèn bão chao đảo liên hồi theo từng đợt gió lùa qua vách lá rách. Bóng của những chiếc cột tràm, bóng của đống lưới cũ góc nhà kéo dài ra, nhảy múa ngoằn ngoèo trên vách lá tựa những bóng ma đang uốn éo, vây quanh chiếc mùng của Tùng. Mùi dầu hỏa từ chiếc đèn bão tỏa ra nồng nặc, trộn lẫn với mùi ẩm mốc của mùng chiếu và mùi tanh sình của nước sông bốc lên từ dưới sàn, tạo nên một bầu không khí đặc quánh, ngột ngạt đến khó thở.
Tùng nằm nghiêng người, một tay kê dưới má, mắt nhìn trừng trừng ra phía chiếc đèn bão. Cơn buồn ngủ bắt đầu ập đến sau một ngày dài kiệt sức, nhưng thần kinh anh vẫn căng ra như dây đàn. Anh nghe rõ tiếng gió rít qua những kẽ hở của vách lá. Gió mùa nước nổi không giống gió đồng bằng, nó mang theo hơi nước lạnh buốt của biển nước mênh mông, tiếng gió nghe u u, lúc trầm lúc bổng, thỉnh thoảng giật mạnh làm những tấm lá dừa nước lợp vách rung lên sột soạt như có hàng chục bàn tay đang cào cấu bên ngoài.
Cánh cửa sau căn chòi, nơi anh đã gài then gỗ chắc chắn, thỉnh thoảng lại rung lên nhẹ khi một cơn gió mạnh quét qua. Tùng nhìn chằm chằm vào đó. Chiếc then gỗ thô sơ ấy là thứ duy nhất bảo vệ anh khỏi khoảng trống hoác của dòng sông đêm. Anh chợt nhớ lại lời chú Ba dặn về tiếng huýt sáo. Trong bóng tối tịch mịch này, để xua đi nỗi sợ, người ta thường có xu hướng huýt sáo một vài giai điệu quen thuộc. Tùng mím chặt môi lại, sợ rằng trong cơn vô thức, mình sẽ vô tình phát ra âm thanh đại kỵ đó.
Dưới sàn nhà, tiếng nước lũ vỗ vào hàng cột tràm vẫn đều đặn, không dứt. *Bõm... bõm... kịch... bõm...* Tiếng động cứ lặp đi lặp lại như một nhịp điệu ru ngủ đầy ma mị. Tùng nhắm mắt lại, cố gắng đưa tâm trí trở về với những âm thanh quen thuộc của thành phố: tiếng còi xe inh ỏi, tiếng nhạc xập xình từ các quán cà phê, tiếng nói cười của bạn bè. Nhưng tất cả đều mờ nhạt và nhanh chóng bị nuốt chửng bởi tiếng nước chảy xiết dưới chân cột tràm.
Căn chòi khẽ rùng mình một cái. Một cơn gió lớn ập tới, tạt mạnh vào vách lá phía sau đầu nằm của Tùng. Luồng gió lạnh luồn qua kẽ lá rách nát, thổi bay một góc mùng tuyn, tạt thẳng vào gáy anh lạnh buốt. Tùng run bắn người, vội vàng kéo chiếc chăn mỏng đắp kín từ chân lên đến cổ.
Trong sự cô độc tột cùng giữa biển nước đêm, tiếng gió lùa qua khe vách lá mỏng manh bắt đầu rên rỉ như tiếng than khóc của ai đó dưới dòng nước.